Chọn lọc bò cái trong chăn nuôi bò thịt

 

 

Giới thiệu

Bước đầu tiên và quan trọng nhất trong xây dựng một chương trình nhân giống cân bằng là xây dựng một tập hợp các mục tiêu nhân giống.

 

Để thực hiện được điều này cần phải nắm được:

 

 

 

        Tiềm năng sản xuất hoặc khả năng của trang trại.

 

 

 

       Mức năng suất xuất hiện tại của đàn gia súc của bạn.

 

 

 

       Các yêu cầu của thị trường hoặc thị trường bạn có kế hoạch cung cấp sản phẩm.

 

 

 

        Những hạn chế về môi trường.

 

 

 

Một khi các mục tiêu nhân giống đã được thiết lập công việc tiếp theo là xác định các tiêu chuẩn chọn lọc sẽ được sử dụng trong đàn để đáp ứng mục tiêu đã vạch ra.

 

 

 

Để thực hiện được việc này cần lập danh sách:

 

 

 

        Các tính trạng quan trọng về kinh tế.

 

 

 

        Mục tiêu sản xuất trong tương lai.

 

 

 

        Tiêu chuẩn chọn lọc.

 

 

 

        Loại những con cái không chửa đẻ.

 

 

 

        Những con đực có tốc độ sinh trưởng cao cần chọn lọc.

 

 

 

Điều quan trọng là phải xác lập các mối liên kết hoặc tương quan di truyền giữa các tính trạng và qua đó lựa chọn một tính trạng có thể tác động đến một tính trạng  khác. Tác động này có thể tích cực hoặc tiêu cực (có lợi hoặc có hại). Thí dụ chọn lọc về tốc độ sinh trưởng có thể làm tăng khối lượng sơ sinh, do đó làm tăng các trường hợp đẻ khó.

 

 

 

Tiêu chuẩn chọn lọc cần được xếp ưu tiên theo tầm quan trọng kinh tế của các tính trạng.

 

 

 

Một số tiêu chuẩn chọn lọc sẽ được áp dụng trên cơ sở "tất cả hoặc không". Tính tình có thể là một tính trạng như vậy mà ở đó nếu gia súc được cho là có tính tình không hiền lành thì phải loại thải, không kể gia súc đó đáp ứng các tiêu chuẩn khác như thế nào.

 

 

 

Người quản lý đàn cần phải nhận rõ được ảnh hưởng của chọn lọc con cái đến toàn đàn. Trong một đời một bò cái giống có thể sản xuất 8 bê trong khi một con đực có thể sản xuất được 120 bê.

 

 

 

Điều quan trọng là xác định khía cạnh nào trong quản lý chăm sóc đàn mà người quản lý có thể tác động để thay đổi năng suất bò cái. Các khía cạnh này là:

 

 

 

         Dinh dưỡng

 

 

 

        Quản lý phối giống.

 

 

 

         Di truyền (chọn lọc)

 

 

 

        Bệnh tật.

 

 

 

Dinh dưỡng có thể là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng sản xuất của bò cái nhưng yếu tố này không được thảo luận một cách chi tiết trong cuốn sách này. Cuốn sách này chỉ đề cập đến các vấn đề:

 

 

 

         Sinh sản (cấu tạo chức năng của đường sinh dục cái)

 

 

 

         Giá trị của chọn lọc

 

 

 

         Chọn lọc bò cái như thế nào cho đúng

 

 

 

        Các công cụ trợ giúp trong chọn lọc và loại thải

 

Chọn lọc bò cái trong chăn nuôi bò thịt

 

71 câu hỏi - đáp về chăn nuôi bò sữa

LỜI GIỚI THIỆU

Hiện nay cả nước ta  có gần 40.000 con bò sữa. Lượng sữa sản xuất ra mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu. Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh sản xuất sữa trong nước, cố gắng phấn đấu đến năm 2010 đưa đàn bò sữa cả nước lên 200.000 con và tự túc được 40% nhu cầu tiêu dùng sữa.

Trong thời gian gần đây phong trào chăn nuôi bò sữa ở nước ta có những bước phát triển mạnh. Tuy nhiên, do đây là một nghề mới, đa số người chăn nuôi còn rất lúng túng, gặp nhiều khó khăn trong tất cả các khâu, đặc biệt là còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa. Trước tình hình đó, chúng tôi cho xuất bản cuốn sách “71 câu hỏi - đáp về chăn nuôi bò sữa” của TS. Phùng Quốc Quảng - một cán bộ khoa học có nhiều năm làm công tác nghiên cứu và phát triển chăn nuôi bò sữa nhằm giải đáp những vấn đề kinh tế - kỹ thuật, những vướng mắc mà người chăn nuôi thường gặp phải, cùng với những chỉ dẫn thực tế dưới dạng từng câu hỏi.

Nội dung cuốn sách gồm 6 phần:

Phần 1: Những vấn đề chung

Phần 2: Xây dựng chuồng trại nuôi bò sữa

Phần 3: Giống bò sữa và chọn bò nuôi lấy sữa

Phần 4: Thức ăn và kỹ thuật chăn nuôi bò sữa

Phần 5: Kỹ thuật khai thác và bảo quản sữa

Phần 6: Kỹ thuật phòng và trị bệnh cho bò sữa

Chúng tôi hy vọng cuốn sách nhỏ này sẽ rất tiện sử dụng, rất bổ ích đối với những cán bộ làm công tác phát triển chăn nuôi bò sữa và nhất là bà con nông dân đang và sẽ chăn nuôi bò sữa.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách và mong nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc

Nhà xuất bản nông nghiệp

71 câu hỏi - đáp về chăn nuôi bò sữa

 

 

Hormones in animal production

Hormone-dependent sex differences in growth rate have been known for a long time. It has also been known that growth rate and FCE (feed conversion efficiency) are higher in intact males than in castrates. It was natural, then, that the availability of hormones and other natural or synthetic substances displaying hormonal activity led to experiments aiming at their use to increase production. Beginning in the mid-1950s, DES (diethylstilboestrol) and hexoestrol were administered to cattle increasingly in the US and the UK respectively, either as feed additives or as implants, and other types of substances also gradually became available. In general, such treatment has resulted in 10–15% increases in daily gains, similar improvements in FCE and improvement of carcass quality (increased lean/fat ratio). Thus there has been a substantial reduction in the amount of energy required per unit weight of protein produced (1,2), and the economic implications of this have been great.

While the use of hormonally active substances in animal production rose, opposition to their use also increased, because of the theoretical possibility that residues in edible tissues might endanger consumers. The factors leading to the ban on DES in the US, first imposed in 1973, have been described (3). Several reports confirm that DES endangers the health of animals and man, when repeatedly used in large doses (4,5). However, as regards risks due to the presence of residues in meat produced according to regulations, no documented deleterious effects have ever been reported in man, either from DES or any other substance with hormonal activity.

A distinction should be made between the hormones as such, for which the metabolism in the body is relatively well known, and synthetic or other substances for whose metabolic inactivation the body may not possess the enzymes necessary. When natural hormones are used in animal production, claims of zero-tolerance residue levels are not meaningful, since these compounds occur in detectable and highly variable concentrations in body fluids as well as in the tissues of all animals, treated or not (6,7). For other substances with hormonal activity the situation is different. However, when residue levels are extremely low, it seems reasonable to weigh the potential risks against the undisputed positive effects some of these compounds have in animal protein production.

This paper will discuss types of substances with hormonal activity currently in use or under investigation, their effects, mechanism of action, metabolism/elimination, tissue levels, risks to the consumer and their economic importance. Finally, other avenues to increased animal production as alternatives to use of hormones will be briefly envisaged. For the sake of simplicity the term hormone will be used, even if incorrectly, to cover all substances with hormonal activity, whether natural or synthetic. Since much information on the question collected before 1975 has been reviewed previously (8), the main emphasis will be placed here on research since that time.

Hormones in animal production

 

 

Cẩm nang nuôi thỏ

Phần 1:  Đặc điểm sinh lý và khả năng sản xuất của thỏ
1/ Đặc điểm sinh lý.
2/ Khả năng sản xuất.
Phần 2: Kỹ thuật chọn giống và sản xuất giống
1/ Các giống thỏ hiện đang nuôi ở TPHCM.
2/ Chọn giống.
3/ Nhân giống.
4/ Công tác quản lý giống.
Phần 3:  Kỹ thuật làm chuồng trại
1/ Yêu cầu chung.
2/ Các kiểu chuồng nuôi và thiết bị chồng trại.
Phần 4: Dinh dưỡng, thức ăn của thỏ
1/ Dinh dưỡng.
2/ Giới thiệu một số công thức phối
trộn thức ăn hỗn hợp cho thỏ.
3/ Phương pháp cho ăn.
Phần 5: Kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng
1/ Một số đặc điểm sinh sản ở thỏ cái.
2/ Chăm sóc thỏ cái mang thai.
3/ Chăm sóc thỏ đẻ.
4/ Chăm sóc thỏ cái nuôi con.
5/Chăm sóc thỏ con theo mẹ.
6/ Chăm sóc thỏ con sau cai sữa.
7/ Chăm sóc thỏ đực giống.
8/ Một số thao tác trong chăn nuôi thỏ.
Phần 6: Phòng và điều trị một số bệnh trên thỏ
1/ Nguyên tắc chung.
2/ Các bệnh thường xảy ra trên thỏ.

 

Cẩm nang nuôi thỏ

Quản lý sinh sản trong chăn nuôi bò sữa

 

Dự án bò sữa Việt Bỉ (VBDP) với mục tiêu tăng thu nhập cho hộ chăn nuôi bò sữa trên cơ sở sản xuất sữa trong nước phát triển bền vững. Dự án triển khai tại 5 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Vĩnh Phúc và Bắc Ninh. Dự án do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD) thực hiện với sự hỗ trợ kỹ thuật của Cơ quan Hợp tác Kỹ thuật Bỉ (BTC) từ năm 2005 đến 2009. Tập huấn chăn nuôi bò sữa cho nông dân là một trong những hoạt động chính của dự án. Dự án sử dụng phương pháp đào tạo cho tập huấn viên (TOT) nhằm đào tạo cho các chủ hộ trình diễn trở thành các tiểu giáo viên cơ sở. Các chủ hộ trình diễn này sẽ tập huấn cho các nhóm hộ chăn nuôi bò sữa tại các xã dự án. Cuốn sổ tay “Quản lý sinh sản trong chăn nuôi bò sữa” được sử dụng làm tài liệu tập huấn nhằm cung cấp toàn bộ các thông tin cơ bản nhất về sinh sản và thụ tinh nhân tạo cho các hộ chăn nuôi bò sữa. Cuốn sổ tay này là người bạn đồng hành cùng với các tập huấn viên trong các khóa tập huấn, mỗi phần trong cuốn sổ tay này đều liên quan đến các chủ đề trong Thực hành chăn nuôi bò sữa giỏi.

Quản lý sinh sản trong chăn nuôi bò sữa

 

Copyright: Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội
Tel: (0243) 827 6653 / Fax: / Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Switch mode views: